A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

KỶ NIỆM 88 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 89 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM VÀ 110 NĂM NGÀY SINH LÃNH TỤ NGUYỄN ĐỨC CẢNH

KỶ NIỆM 88 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(03/02/1930 – 03/02/2018)
89 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
(28/7/1929 – 28/7/2019)
VÀ 110 NĂM NGÀY SINH LÃNH TỤ NGUYỄN ĐỨC CẢNH
(02/02/1908 – 02/02/2018)

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI NĂM 1930 – BƯỚC NGOẶT

 LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Mùa xuân năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã họp (từ ngày 3 đến ngày 07/02/1930) ở bán đảo Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc). Tham dự Hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh - đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm - đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc - thay mặt Quốc tế Cộng sản. Hội nghị quyết định hợp nhất ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (17/6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (11/1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/01/1930) thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vào ngày 03 tháng 02 năm 1930.

 

Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gởi đến công nhân, nông dân, đồng bào, đồng chí cả nước nhân dịp thành lập Đảng. Các văn kiện quan trọng trên là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đã đặt ra và giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp thiết và định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Đó cũng là kết quả của sự phát triển cao và thống nhất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là hệ tư tưởng lý luận của giai cấp công nhân, phong trào công nhân mà còn là vũ khí giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”. Đường lối cách mạng của Đảng thể hiện trong Cương lĩnh là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phù hợp và đáp ứng đúng nguyện vọng của giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động và của toàn dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời khẳng định giai cấp công nhân và đảng tiên phong của nó đứng ở vị trí trung tâm và giữ vai trò lãnh đạo cách mạng. Điều đó quyết định nội dung, xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam giành độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn con đường cách mạng đó phù hợp với nội dung và xu thế cách mạng của thời đại mới được mở ra từ Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại (1917) và chỉ có đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm độc lập tự do thật sự cho dân tộc, “đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”. Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

THÀNH TỰU VĨ ĐẠI VÀ BÀI HỌC TỔNG QUÁT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG 88 NĂM QUA:

Trong 88 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hai là: Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là: Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng làm cho chúng ta thêm tự hào về dân tộc Việt Nam - một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Trong giai đoạn lãnh đạo của công cuộc đổi mới, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn nhất quán kiên định những vấn đề cơ bản:

- Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đứng trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng ta luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn, phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và những thành tựu cách mạng đã đạt được, giữ vững độc lập dân tộc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo.

- Đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

- Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.

Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, hoàn thiện đường lối đổi mới; thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng; lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.

LỊCH SỬ CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
1) Ngày thành lập Công đoàn Việt nam

Ngày 28/07/1929. Tại số nhà 15 phố Hàng Nón – Hà Nội, Ban Chấp hành Lâm thời Đông Dương cộng sản Đảng đã quyết định tổ chức Hội nghị đại biểu Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ lần thứ nhất (tổ chức tiền thân của Công đoàn Việt Nam). Đại hội đã bầu ban chấp hành Trung ương lâm thời Tổng công hội đỏ do đ/c Nguyễn Đức Cảnh Ủy viên BCH Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đứng đầu.

Trong cuốn Đường cách mệnh” Bác Hồ viết về tính chất nhiệm vụ tổ chức Công hội đỏ (nay là tổ chức công đoàn Việt Nam) như sau: Tổ chức công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau có tình cảm, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi của công nhân, năm là để giúp đỡ cho quốc dân, giúp cho thế giới".
2) Tên gọi của Công đoàn Việt Nam qua các thời kỳ
Từ năm 1929 – nay, Công đoàn Việt Nam Việt Nam đã qua 7 lần thay đổi tên gọi:
Từ 1929 – 1935: Công hội đỏ
Từ 1935 – 1939: Nghiệp đoàn ái hữu.
Từ 1939 – 1941: Hội công nhân Phản đế.
Từ 1941 – 1946: Hội công nhân cứu quốc.
Từ 1946 – 1961: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
Từ 1961 – 1988: Tổng Công đoàn Việt nam.
Từ 1988 nay: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
3) Công đoàn Việt Nam đã trải qua 11 kỳ đại hội
Đại hội lần thứ I: tổ chức từ ngày 01 – 15/01/1950, tại xã Cao Vân, Huyện Đại Từ , tỉnh Thái Nguyên. Với sự tham dự của 200 đại biểu đại diện cho 350 ngàn công nhân viên chức, người lao động (CNVCLĐ) cả nước, Đại hội vinh dự nhận thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng, người thành lập và lãnh đạo Công hội Ba Son (1921) làm chủ tịch danh dự. Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên thường trực trung ương Đảng được bầu làm chủ tịch. Mục tiêu của đại hội: “ Động viên công nhân, viên chức cả nước, nhất là công nhân ngành quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ cho kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi”
Đại hội lần thứ II: diễn ra từ ngày 23 – 27/2/1961 tại Trường Thương nghiệp Trung Ương (Cầu Diễn, Hà Nội), với sự tham gia của 752 đại biểu. đại hội quyết định đổi tên Tổng Liên đoàn lao động việt Nam thành Tổng công đoàn Việt nam, nhất trí thông qua Điều lệ CĐ Việt Nam gồm 10 chương và 45 điều, quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền lợi của đoàn viên, nguyên tắc tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của các cấp công đoàn. Đồng chí hoàng Quốc Việt được bầu làm chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội: “ Động viên cán bộ, CNVLĐ thi đua lao động sản xuất, xây dựng CNXH ở miền Bắc, với tinh thần: mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà”.
Đại hội lần thứ III: Tổ chức từ ngày 11 – 14/02/1974 tại hội trường Ba đình, Hà Nội, có 600 đại biểu. Đồng chí Tôn Đức Thắng, chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được bầu làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch. Mục tiêu của đại hội: “Động viên sức người, sức của chi viện cho chiến trường, tất cả để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ”.
Đại hội lần thứ IV: Họp từ 11 – 15/5/1978 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, với 926 đại biểu đại diện cho hơn ba triệu đoàn viên công đoàn, CNVLĐ cả nước. Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Văn Linh, , ủy viên Bộ chính trị BCH Trưng ương Đảng Cộng sản Việt Nam làm Chủ tịch. Mục tiêu của đại hội là: “Động viên giai cấp công nhân và người lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước”.
Đại hội lần thứ V: họp từ ngày 12 – 15/11/1983, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, với 949 đại biểu về dự. Đại hội nhất trí lấy ngày 28/7/1929, ngày thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ làm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam. Đại hội bầu đống chí Nguyễn Đức Thuận Ủy viên Trung ương Đảng làm Chủ tịch. Tháng 2/1987 đồng chí Phạm Thế Duyệt được bầu làm Chủ tịch. Mục tiêu của đại hội là: “Động viên công nhân lao động thực hiện ba chương trình kinh tế lớn của Đảng. Phát triển nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu”.
Đại hội lần thứ VI: Họp từ 17 – 20/10/1988, tại hội trường Ba Đình, Hà Nội, với 834 đại biểu. đây là Đại hội đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời cũng đặt ra cơ sở lý luận cho đổi mới tổ chức và hoạt động CĐ. Đại hội đã đổi tên Tổng công đoàn Việt Nam thành Tổng LĐLĐ Việt nam. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội là: “Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì: vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”.
Đại hội lần thứ VII: Họp từ ngày 9 – 12/10/1993, tại Hội trường Ba Đình Hà Nội, với hơn 600 đại biểu về dự. Đồng chí Nguyễn Văn Tư được bầu lại làm Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội là: “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân lao động”.
Đại hội lần thứ VIII: Họp từ ngày 3 – 6/11/1998 tại Cung văn hóa Hữu nghị Việt Xô – Hà Nội, với 897 đại biểu. Đại hội bầu đồng chí Cù Thị Hậu, ủy viên BCH TƯ Đảng làm Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội: “Vì sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức CĐ vững mạnh. Xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ CNH, HĐH, phát triển về số lượng và chất lượng, làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh vững chắc với nông dân và trí thức; ra sức phát triển đoàn viên trong các thành phần kinh tế, tiếp tục xây dựng tổ chức CĐ vững mạnh, nâng cao trình độ cán bộ CĐ; tham gia chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng pháp luật, chính sách có liên quan đến CNVLĐ, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong MTTQ Việt nam, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua sôi nổi, động viên CNVLĐ phát huy nội lực phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” theo con đường xã hội chủ nghĩa”.
Đại hội lần thứ IX: Từ 10 – 13/10/2003 tại Cung văn hóa Hữu nghị Việt – Xô, Hà Nội, với 900 đại biểu về dự. Đồng chí Cù Thị Hậu được bầu lại làm Chủ tịch, tháng 12/2006 đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch. Mục tiêu của Đại hội: “Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ đổi mới, củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong MTTQ Việt Nam, trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, rộng khắp, thiết thực và có hiệu quả trong CNVCLĐ; tham gia quản lý, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNV:Đ; đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức công đoàn trong các thành phần kinh tế, nâng cao năng lực và trình độ cán bộ công đoàn; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa”.
Đại hội lần thứ X: diễn ra vào tháng 11/2008, tại Hà Nội. Tới dự có 985 đại biểu, đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch. Mục tiêu Đại hội: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của CĐ các cấp, hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy ĐVCĐ, CNVCLĐ làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động CĐ vào việc tổ chức thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của ĐV, CNCLĐ; xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Đại hội lần thứ XI: diễn ra từ ngày 27 – 30/7/2013, tới dự đại hội có 944 đại biểu, tại Cung văn hóa Hữu nghị Việt – Xô. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu giữ Chủ tịch. Đại hội vinh dự đón tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới dự. Bài phát biểu của Tống bí thư đã nhấn mạnh “Với truyền thống vẻ vang của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn, với tinh thần đoàn kết, trí tuệ, dân chủ, đổi mới, chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng Đại hội Công đoàn Việt nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2013 – 2018 sẽ có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa”.

(Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đ/c lãnh đạo

dâng hương lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh ngày 24 – 01 - 2014)

(Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trồng cây ngọc lan

trong khu Lăng mộ lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh ngày 24 – 01 - 2014)

(Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết lưu niệm

Tại nhà bảo tàng Nguyễn Đức Cảnh ngày 24 – 01 - 2014)

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo tỉnh Thái Bình, lãnh đạo huyện Thái Thụy đang hương tưởng niệm lãnh tụ Nguyễn Đức cảnh tại lăng mộ của Người ở khu 3, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình nhân dịp kỷ niệm 84 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930 – 03/2/2014) và 106 năm ngày sinh của lãng tụ Nguyễn Đức Cảnh (02/2/1908 – 02/2/2014). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trồng cây ngọc lan kỷ niệm và xúc động viết những dòng lưu niệm:

“Diêm Điền, ngày 21 – 1 – 2014.

 Tưởng nhớ đồng chí Nguyễn Đức Cảnh – Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người chiến sĩ cộng sản kiên cường – Nhà lãnh đạo đầu tiên của Công hội đỏ, tiền thân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam, Người con ưu tú của quê hương Thái Bình.

 Mong Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thái Bình luôn luôn ghi nhớ công ơn của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, ra sức học tập, tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của quê hương, năng động sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

 Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Đức cảnh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”

                                                         Thái Thụy, ngày 29/01/2018                                                                 
                                                                 Nguyễn Đức Lâm
                    
                         Ngàn hoa dâng Người
                                                               Kính dâng lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh

Máu đào đỏ thắm sông quê

Người đi để lại lời thề sắt son

“Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân chưa dễ đền nghì trời mây

Tạ Từ vĩnh quyết từ nay

Cúi xin Từ Mẫu chóng khuây nỗi buồn”(*)

Niềm thương nỗi nhớ vấn vương

Thương người con trẻ kiên cường, thủy chung

 

Xà lim, máy chém lạnh lùng

Anh hùng, bất khuất, kiên trung một lòng

Xây dựng Đảng công nông, trí thức

Vững bước soi đường cứu nước, cứu dân

Những lời nhắn nhủ ân cần

Vẫn vang vọng  mãi tinh thần đấu tranh

“Một mình trằn trọc canh trường

Nát lòng muôn việc giữa đường chưa xong

                                                                                     Ngổn ngang trăm mối bên lòng

                                                                                         Xông pha dông tố chi mong độ về” (**)

 

Người ơi trăm mối bộn bề

Khắc sâu nỗi nhớ, tràn trề niềm thương

Tấm gương bất khuất, kiên cường

Vẻ vang dòng tộc, quê hương Diêm Điền

Hôm nay trong phút đoàn viên

Khắp miền đất nước dâng hương tạ Người

Ngàn vòng hoa trắng tinh khôi

Dâng Nguyễn Đức Cảnh đời đời kính yêu!

                                                       Diêm Điền, tháng 7/2017

  Ghi chú: (*) và (**) là lời thơ trích trong bài Tạ Từ ngôn – thư của cụ Nguyễn Đức Cảnh gửi Thân Mẫu trước khi ra pháp trường ngày 31/7/1932                                                       

Trở về bên mẹ kính yêu

                                 (Kính dâng hương hồn cụ Nguyễn Đức Cảnh)

Nguyễn Đức Cảnh tấm gương ngời sáng

Chiến đấu hi sinh vì nước, vì dân

Cùng Bác Hồ sáng lập Đảng quang vinh

Công Hội Đỏ liên minh giai cấp.

 

Nguyễn Đức Cảnh anh hùng bất khuất

Hiên ngang lên máy chém quân thù

Lời Tạ Từ gửi về cho mẹ

Xin mẹ mau khuây khỏa nỗi buồn thương!

 

Được tin con, mẹ vội lên đường

Dòng sông Lấp nơi quê hương mẹ

Sắc đỏ màu cờ, màu máu thắm tươi

Mẹ kính yêu ơi, con xin vĩnh biệt Người!

 

Chiều quê hương đau thương năm ấy

Nước mắt mẹ nhòa hòa với sông quê

Con đi giữ trọn lời thề

Trở về bên mẹ, làng quê yên bình.

 

Sông Lấp, sông Diêm ơi sông yêu thương

Sông thấu chăng lòng mẹ, lòng cha

Sông nghe chăng những lời ru của mẹ

Con hãy yên lòng trong đất mẹ, sông quê.

 

Nay trở về phố biển sông Diêm

Mái tranh xưa, giếng nước khơi trong mát

Thấp thoáng đâu đây dáng mẹ hiền

Con mừng gặp mẹ bình yên quê nhà.

 

Chiều thu nay vẫn giăng đầy nỗi nhớ

Đón Người về với phố biển quê hương

Bao niềm mong mỏi tiếc thương

Kính dâng Người nén hương thơm nghĩa tình!

 

                                      Diêm Điền, tháng 7 năm 2007

                                                 Nguyễn Đức Lâm

 

 

 

Nguyễn Đức Cảnh – Hồ Ngọc Lân ngàn thu sống mãi

 

                                    (Kính dâng hai cụ Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân)

 

Nguyễn Đức Cảnh ngàn thu sống mãi

Hai tư xuân, mãi mãi thanh xuân

Gan vàng, dạ sắt, tinh thần

Anh hùng, bất khuất, vì dân trọn đời

Muôn trùng khơi, tận trùng khơi

Vẫn vang vọng mãi những lời Người hô

Khi lên máy chém quân thù

“Việt Nam độc lập, tự do huy hoàng!”

 

Hai người đồng chí hiên ngang

Bên nhau chiến đấu gan vàng lòng son

Tấm gương sáng chói vẫn còn

Lưu truyền mãi mãi cháu con muôn đời!

 

Nguyễn Đức Cảnh ngàn thu sống mãi

Hồ Ngọc Lân mãi mãi thanh xuân

Tấm gương chói sáng vô ngân

Hai người đồng chí vì dân quên mình!

 

                            Thái Thụy, ngày 29/01/2018

                                    Nguyễn Đức Lâm


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 271
Tháng 09 : 4.133
Năm 2019 : 75.796